Japan Rail Times
The
Rail Way
to Travel
Kanagawa-Left-Banner
Rail Travel

Sanriku Kỳ Thú - Phần 1: 3 lý do để ghé thăm vùng ven biển gập ghềnh này

Sanriku Kỳ Thú - Phần 1: 3 lý do để ghé thăm vùng ven biển gập ghềnh này

Bờ biển Sanriku (三陸海岸 Sanriku-kaigan) là đường bờ biển trải dài 600 km thuộc khu vực Tohoku, từ tỉnh Aomori chạy qua tỉnh Iwate, đến tận tỉnh Miyagi. Đường ven biển gập ghềnh tưởng chừng giao thông bất tiện, nhưng nhờ những nỗ lực của cộng đồng và doanh nghiệp địa phương, nơi đây đã xây dựng được mạng lưới đường sắt và xe buýt công cộng giúp kết nối các cộng đồng ven biển.

 

Trong loạt bài này, chúng mình sẽ khám phá ba lý do vô cùng thuyết phục để ghé thăm vùng bờ biển Sanriku: phong cảnh, đồ ăn và mục đích nhân đạo - hỗ trợ các nỗ lực phục hồi địa phương sau thảm họa. Ba lý do này không riêng biệt với nhau, thậm chí, chuyến đi của bạn có thể đạt được cả 3 mục đích đấy!

 

Mặc dù được thiên nhiên ưu đãi cho vô vàn phong cảnh đẹp mê hồn và nguồn hải sản phong phú, nhưng đừng quên rằng cách đây chỉ vài năm, phần lớn vùng bờ biển Sanriku đã bị tàn phá nặng nề bởi trận đại động đất và sóng thần miền đông Nhật Bản năm 2011 (東日本 大震災  Higashi-nihon daishinsai). Nếu có thể, hãy ghé các hàng quán, nhà trọ địa phương trong chuyến đi của bạn để hỗ trợ các nỗ lực phục hồi sau thảm họa nhé. Chỉ cần ở lại một đêm hoặc ăn một bữa cũng là giúp ích cho cộng đồng địa phương rồi, và quan trọng hơn là cho họ biết rằng bạn không quên và đang cổ vũ họ.

 

Lưu ý: Đây là phần 1 của loạt bài gồm hai phần về du lịch dọc bờ biển Sanriku. phần 1 sẽ tập trung vào việc di chuyển bằng tuyến đường sắt Sanriku Rias Line, còn phần 2 sẽ tập trung vào các nỗ lực phục hồi và tái thiết khu vực.

 

Tuyến đường sắt Sanriku Rias Line: biểu tượng của hy vọng và sự kiên cường

Tuyến đường sắt Sanriku Rias Line cho bạn cơ hội chiêm ngưỡng quang cảnh tuyệt đẹp dọc bờ biển Sanriku. (Nguồn ảnh: Đường sắt Sanriku)

 

Trải dài 163 km từ ga Kuji (久慈駅) ở phía bắc đến ga Sakari (盛駅) ở phía nam, tuyến đường sắt Sanriku Rias (三陸鉄道リアス線 Sanriku Tetsudо̄ Riasu-sen) chạy dọc đường bờ biển gập ghềnh của tỉnh Iwate (岩手県 Iwate-ken).

 

Thông tin thú vị: Đường sắt Sanriku (三陸鉄道 Sanriku Tetsudо̄) tiếng Nhật gọi là "Santetsu" - rút gọn từ cái tên tiếng Nhật của nó.

 

Đường bờ biển hiểm trở vùng Sanriku. (Nguồn ảnh: 岩手県観光協会)

 

Bờ biển Sanriku có đường bờ biển cheo leo với nhiều khe nước - các cửa biển tạo thành các rặng núi sừng sững. Khu vực này có địa hình hiểm trở đến mức phải khoan hơn 80 đường hầm xuyên bờ biển để xây dựng được hệ thống đường ray.

 

Các tuyến đường sắt dọc bờ biển Sanriku ở Iwate. (Nguồn ảnh: JR East/ Carissa Loh) 

 

Tuyến đường sắt Sanriku Rias Line từng bao gồm ba tuyến:

  • Kuji đến Miyako: Tuyến đường sắt Sanriku Kita -Rias Line (北リアス線)
  • Miyako đến Kamaishi: Tuyến JR East Yamada Line (山田線)
  • Kamaishi đến Sakari: Tuyến đường sắt Sanriku Minami-Rias Line (南リアス線)

Vào tháng 3 năm 2011, một trận sóng thần dữ dội đã tấn công vùng bờ biển Sanriku, gây ra thiệt hại trên diện rộng cho hệ thống đường sắt — các đường ray, nhà ga, cầu, v.v. Tuy nhiên, vì tuyến đường sắt đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống hàng ngày của cộng đồng dân cư ven biển, nên những nhà chức trách đã quyết định cho các tuyến ít bị hư hại hơn trở lại hoạt động chỉ 5 ngày sau thảm họa. Cuối cùng, toàn bộ Kita-Rias và tuyến Minami-Rias Lines đã được mở lại hoàn toàn vào tháng 4 năm 2014.

 

Sau 8 năm, đoạn đường sắt giữa ga Miyako (宮古駅) và ga Kamaishi (釜石駅), một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong trận động đất và sóng thần năm 2011, cuối cùng đã hoạt động trở lại vào tháng 3 năm 2019. Mặc dù việc xây dựng hệ thống xe buýt nhanh (BRT) đáng ra sẽ nhanh hơn, nhưng sau khi thảo luận với cộng đồng địa phương, JR East đã quyết định khôi phục tuyến đường sắt. Gần như toàn bộ hệ thống ray tàu cần được xây dựng lại từ đầu và tiêu tốn nhiều thời gian, nhất là việc xác định vị trí xây dựng lại chúng — xây dựng lại ở vị trí các thanh ray cũ có nguy cơ khiến chúng dễ bị phá hủy bởi thiên tai một lần nữa, vậy nên phải xem xét các tuyến đường khác.

 

Mất gần 8 năm để xây dựng lại các tuyến đường ray và nhà ga. Cùng với việc khôi phục, JR East đã chuyển giao lại việc quản lý hoạt động của khu vực này cho Đường Sắt Sanriku, và toàn bộ tuyến đường từ Kuji đến Sakari được gọi là đường sắt Sanriku Rias Line. Sau khi khai trương, tuyến đường sắt Sanriku Rias Line đã trở thành tuyến đường sắt khu vực thứ 3 dài nhất Nhật Bản (Third Sector Railway, là tuyến đường sắt do chính quyền và tư nhân cùng sở hữu). Hãy đi trên tuyến này và khám phá những trải nghiệm tuyệt vời nhất ở Sanriku nhé!

 

Uni Bento ở ga Kuji

Bên ngoài ga Kuji thuộc tuyến đường sắt Sanriku và ga JR Kuji. (Nguồn ảnh: JR East/ Carissa Loh)

 

Ở đầu phía bắc của tuyến Rias Line là ga Kuji (久慈駅) - nối đường sắt Sanriku với tuyến JR Hachinohe. Kuji nổi tiếng là bối cảnh phim Amachan - một bộ phim truyền hình buổi sáng của đài NHK năm 2013 - kể về những ama ở bờ biển Kosode. Ama (海女) là những nữ thợ lặn tự do chuyên đánh bắt uni (うに nhím biển), awabi (アワビ bào ngư) và các loại trai sò biển khác. Kuji được biết đến là nơi sản xuất uni, và thậm chí bên ngoài ga JR Kuji còn có thiết kế món ngon nổi tiếng này.

 

Uni bento đặc biệt của Rias Tei. (Nguồn ảnh: 岩手県観光協会)

 

Trước khi bắt đầu hành lên tàu, đừng bỏ lỡ cơ hội mua loại cơm hộp đặc biệt uni bentо̄ (うに弁当 cơm hộp với thịt nhím biển) từ Rias Tei (リアス亭) - một quán ăn nhỏ trong ga Kuji nhé.

 

Vỏ hộp có thể trông không sang trọng lắm, nhưng mở hộp bento ra bạn sẽ thấy một lớp uni tươi rói, vàng óng ánh, nhìn ngon ứa nước miếng! Mỗi hộp bento có 5–6 con nhím biển và bên dưới là gạo ngon ninh trong nước dùng uni đậm vị. Mỗi ngày chỉ bán 20 hộp thôi nên các bạn nhớ đến sớm để khỏi thất vọng vì không mua được nhé! 

 

Cảnh đẹp trên cầu Osawa

Tàu chạy chậm lại ở cầu Osawa. (Nguồn ảnh: Đường sắt Sanriku)

 

 Dọc chuyến tàu trên tuyến Rias Line, bạn sẽ được chào đón bởi quang cảnh tuyệt đẹp của biển Thái Bình Dương. Một điểm ngắm cảnh tuyệt đẹp là đoạn giữa ga Horinai (堀内駅) và ga Shiraikaigan (白井海岸駅) - tại đây tàu sẽ chạy chậm lại dọc theo cầu Osawa (大沢橋梁 О̄sawa kyо̄ryо̄) để hành khách có thể ngắm cảnh và chụp ảnh.

 

Ga Horinai nhìn ra Thái Bình Dương. (Nguồn ảnh: 東北観光推進機構)

 

Thông tin thú vị: Nếu là một fan hâm mộ của bộ phim truyền hình Amachan của đài NHK, thì hẳn bạn sẽ cảm thấy rằng ga Horinai trông rất quen thuộc… Đúng vậy, ga Horinai đã được sử dụng làm địa điểm quay “Ga Sodegahama” trong phim. Với cảng cá và bờ biển Thái Bình Dương ở ngay trước ga, quang cảnh đường bờ biển Sanriku nhìn từ ga Horinai có thể nói không thua kém bất kỳ đâu.

 

Mặt khác, ga lân cận của nó, ga Shiraikaigan, nổi tiếng về một lý do khác. Ga Shiraikaigan không có người điều hành, được xếp hạng 10 trong danh sách “Những ga hẻo lánh nhất Nhật Bản” vào năm 2020 (秘境駅 Hikyо̄-eki), và là điểm dừng chân nổi tiếng của những người nhiếp ảnh tàu hỏa và đam mê đường sắt.

 

Đến bờ biển hiểm trở vùng Kitayamazaki

Những vách đá hùng vĩ ở Kitayamazaki. (Nguồn ảnh: 岩手県観光協会)

 

Đừng chỉ ngắm phong cảnh từ xa, hãy đến gần! Một trong những đoạn đẹp nhất toàn bộ đường bờ biển này nằm ở Kitayamazaki (北山崎). Kitayamazaki được nhiều người cho là đoạn ấn tượng nhất đường bờ biển và cũng dễ hiểu tại sao. Những vách đá chót vót cao 200m trải dài suốt 8 km bờ biển là khung cảnh đầy ấn tượng, làm nên biệt danh "Dãy núi Alps trên biển" cho Kitayamazaki (海のアルプス Umi no arupusu). Có hai cách để thưởng ngoạn quang cảnh tại đây: từ trên cao và từ bên dưới.

 

 Để thưởng ngoạn quang cảnh từ trên không, hãy đến Đài Quan Sát Kitayamazaki (北山崎 展望台 Kitayamzaki Tenbо̄dai), nơi có đài ba tầng cho bạn thỏa sức đắm mình vào quang cảnh. Nếu sức khỏe dẻo dai hơn, bạn có thể đi xuống 736 bậc thang đến mép nước. Du khách có thể đến Đài Quan Sát Kitayamazaki bằng cách đi taxi 10 phút từ ga Tanohata (田野畑駅) thuộc tuyến đường sắt Sanriku Rias Line.

 

Nếu muốn lại gần hơn nữa, hãy đi du thuyền Vách Đá Kitayamazaki (北山崎断崖クルーズ観光船 Kitayamazaki dangai kurūzu kankō-sen), một chuyến du thuyền ngắm cảnh đưa bạn ra biển trong 50 phút. Hãy ngắm nhìn những vách đá cao chót vót từ phía biển ... thật là một khung cảnh ấn tượng tuyệt vời! Du thuyền khởi hành từ cảng Shimanokoshi, cách ga Shimanokoshi (島越駅) trên tuyến đường sắt Sanriku Rias Line chỉ 10 phút đi bộ.

 

Nước trong vắt ở Jodogahama

Tiếp tục đi dọc theo tuyến Rias Line, bạn sẽ đến một trong những ga đông đúc nhất tuyến: Ga Miyako (宮古駅). Nơi này nổi tiếng với chợ cá - mình sẽ nói kỹ hơn trong mục ẩm thực ở phần sau.

 

Ga Miyako được nối với tuyến JR Yamada, liên kết với thủ phủ Morioka của tỉnh Iwate, và là cửa ngõ đến Jodogahama - một trong những địa điểm đẹp nhất dọc bờ biển Sanriku.

 

Bờ biển Jodogahama tuyệt đẹp. (Nguồn ảnh: 岩手県観光協会)

 

Cách ga Miyako 15 phút đi xe buýt là bãi biển Jodogahama (浄土ヶ浜 Jо̄dogahama) - được cho là một trong những địa điểm đẹp nhất Iwate. Người ta nói rằng bãi biển này đẹp như thiên đường trong Phật giáo (浄土 Jо̄do) do đó được đặt tên là Jodogahama, có nghĩa là “Bãi biển Tịnh Độ”. Tại đây, bạn có thể thưởng ngoạn toàn cảnh làn nước trong xanh êm đềm bao quanh bờ biển rải đá cuội trắng, tương phản với những mỏm đá lởm chởm giữa lòng đại dương.

 

Jodogahama cũng là một phần của tuyến đường mòn ven biển Michinoku, mình sẽ nói thêm về nó ở phần hai của loạt bài này - tập trung vào những nỗ lực phục hồi và tái thiết sau thảm họa thiên nhiên ở Sanriku.

 

Ngắm vịnh biển ở Kamaishi

Sau Miyako, ga lớn tiếp theo trên tuyến đường sắt này là Kamaishi, tại đây bạn có thể chuyển tiếp sang tuyến JR Kamaishi. Giống như Miyako, Kamaishi cũng phụ thuộc rất nhiều vào nghề đánh bắt cá, bạn có thể thấy chợ cá địa phương - Sunfish Kamaishi - ngay cạnh nhà ga.

 

Kamaishi Daikannon nhìn ra vịnh Kamaishi. (Nguồn ảnh: 岩手県観光協会

 

Trong khi Miyako có Jodogahama, được đặt tên theo thiên đường trong Phật giáo, thì Kamaishi có Kamaishi Daikannon (釜石大観音), một bức tượng Quan Âm khổng lồ. Bức tượng cao 48,5m ôm cá trên tay và nhìn ra vịnh Kamaishi, trông chừng các thủy thủ và ngư dân. Trả một khoản phí nhỏ, bạn thậm chí có thể vào trong bức tượng và ngắm nhìn toàn cảnh Vịnh Kamaishi. Kamaishi Daikannon cách ga Kamaishi 10 phút đi taxi.

 

Ngoài nghề đánh bắt cá, Kamaishi còn nổi tiếng với các công trình sắt thép. Bạn có biết không? Kamaishi đã sản xuất quặng sắt từ những năm 1850 và được cho là nơi khai sinh ra ngành công nghiệp sắt của Nhật Bản. Bảo tàng Sắt và Thép Kamaishi cách Kamaishi Daikannon chỉ 15 phút đi bộ.

 

Ga tình yêu: Koishihama

Sân ga Koishihama. (Nguồn ảnh: 東北観光推進機構)

 

Tiếp tục đi xuống phía nam, có một nhà ga khác mang câu chuyện đặc biệt là ga Koishihama (恋し浜駅) - chỉ cách ga cuối cùng phía nam tuyến Rias Line có ba ga. Tên của nó từng được viết là 小石浜 (Koishihama), có nghĩa là “bãi đá nhỏ” và nhà ga có câu khẩu hiệu là “Ai no isobe” (藍の磯辺 bờ biển chàm). Năm 2009, trước sự nhiệt tình của người dân địa phương, tên nhà ga này đã được đổi lại thành 恋し浜 (Koishihama), có nghĩa là “bờ biển tình yêu”, và câu khẩu hiệu “Ai no isobe” được viết lại thành 愛の磯辺 (bờ biển tình yêu). Kể từ đó, ga Koishihama đã trở thành một điểm đến siêu hot cho những ai đang tìm kiếm tình yêu.

 

Để hưởng ứng chủ đề này, một chiếc “Chuông hạnh phúc” (幸せの鐘 Shiawase-no-kane) được xây dựng tại nhà ga vào năm 2010, cùng với một hòm thư bưu điện đặc biệt được lắp đặt vào năm 2014. Hòm thư ở Nhật Bản thường có màu đỏ tươi, nhưng một hòm thư ở ga Koishihama lại có màu hồng ngọt ngào. Người ta nói rằng nếu gửi một bức thư từ hòm thư màu hồng này sẽ giúp bạn tìm thấy tình yêu.

 

Ema vỏ sò được trang trí ở ga Koishihama. (Nguồn ảnh: 海の見える駅)

 

Nhưng có lẽ thứ nổi bật nhất ở đây là hàng trăm chiếc ema vỏ sò (絵馬 bảng ghi điều ước) trang trí tại ga. Ema thường được làm bằng gỗ, là thứ thường thấy ở các ngôi đền Nhật Bản, mọi người sẽ viết điều ước trên đó và cầu mong điều ấy sẽ thành hiện thực. Koishihama nổi tiếng về sản xuất sò điệp, vì vậy ở đây bạn có thể viết điều ước lên ema vỏ sò điệp và treo chúng tại ga. Ngoài ước tình yêu, nhiều du khách cũng cầu chúc cho Sanriku được nhanh chóng khôi phục.

 

Đi tàu trên tuyến đường sắt Sanriku Rias Line

Hãy xem đoạn video ngắn giới thiệu một số điểm nổi bật trên tuyến đường sắt Sanriku Rias Line tại đây nhé! Video được quay để kỷ niệm khai trương toàn bộ tuyến đường vào tháng 3 năm 2019, và có một phiên bản đặc biệt với giai điệu tươi vui của bài hát "Hana wa saku" (花は咲く Hoa Sẽ Bung Nở) được phát tại đây. “Hana wa saku” là một bài hát do NHK sản xuất nhằm mục đích kêu gọi cộng đồng gây quỹ ủng hộ các nỗ lực khôi phục hậu quả thiên tai năm 2011.

 

Ấn vào đây để xem video trên YouTube, vì video không chạy khi nhúng link.

 

Thưởng thức hải sản xa hoa vùng Sanriku

Bờ biển Sanriku là nơi có một trong ba ngư trường tốt nhất thế giới. Tại đây, dòng hải lưu Kuroshio ấm áp (黒潮) hòa với dòng hải lưu Oyashio lạnh giá (親潮), hình thành những điều kiện sống thuận lợi nhất cho nhiều loài sinh vật biển. Vùng Sanriku tự hào về sản lượng cá và hải sản khổng lồ được ưa chuộng cả trong nước và trên thị trường quốc tế, vậy còn cách nào để trải nghiệm Sanriku tốt hơn là thưởng thức ẩm thực khắp vùng?

 

Uni là món đặc sản có rất nhiều ở Sanriku. (Nguồn ảnh: 岩手県観光協会)

 

Uni là món đặc sản nổi tiếng của Sanriku, bạn có thể thưởng thức nó ở nhiều địa điểm dọc bờ biển Sanriku; không chỉ có trong hộp bento ở ga Kuji. Một cách bảo quản uni tươi thú vị tại một số khu chợ vùng Miyako là đóng gói chúng trong các chai thủy tinh vốn dùng đựng sữa, nhưng đổ đầy nước biển. Ở một số nơi, bạn thậm chí có thể ăn uni tươi ngay trong vỏ!

 

Bindon - bữa ăn đóng chai. (Nguồn ảnh: 東北観光推進機構

 

Tiếp tục đam mê với những chai thủy tinh, món mình luôn muốn thử kể từ khi đọc được thông tin về nó chính là bindon (瓶ドン), có nghĩa là “cơm đóng chai”. Đó là hải sản được đóng vào chai thủy tinh thành từng lớp một.

 

Đổ lớp hải sản bidon lên trên cơm và thưởng thức bữa ăn của bạn. (Nguồn ảnh: 東北観光推進機構)

 

Khi ăn, bạn chỉ cần đổ các món trong chai lên bát cơm là xong! Mục đích của bindon là để khách hàng rắc mĩ thực đóng trong chai của Miyako lên bát cơm, và các nguyên liệu trong chai thay đổi theo mùa.

 

Ngoài các loại động vật có vỏ như awabi (アワビ bào ngư) và hotate (帆立 sò điệp), các loại cá như cá hồi (鮭 sake), cá thu đao Thái Bình Dương (さんま sanma), cá ngừ vằn (カツオ katsuo) và cá thu (サバ saba) cũng là những đặc sản hàng đầu Sanriku. Các loại hải sản theo mùa thay đổi theo từng tháng, có vô số lựa chọn khác nhau để thỏa mãn sở thích của bạn vào những thời điểm khác nhau trong năm.

 

A winter Kira Kira Don. (Image credit: 東北観光推進機構)

 

Trong khi Miyako có món bindon, Minamisanriku (南三陸), nằm xa hơn về hướng bờ biển phía nam, có món cơm hải sản khác hẳn sẽ khiến bạn phải chú ý: Kira Kira Don (キラキラ丼). “Kira kira” có nghĩa là lấp lánh hoặc tỏa sáng, ám chỉ các loại hải sản thơm ngon - kho báu của mỗi mùa - phủ trên tô cơm

 

Kira Kira Don là tô cơm phủ những loại hải sản ngon nhất đánh bắt được vào mỗi mùa (kho báu của mỗi mùa), và ikura (いくら trứng cá hồi) là món chính vào mùa đông (tháng 11 - tháng 2). Bạn có thấy hàng chục (thậm chí đôi khi là hàng trăm!) viên Ikura phủ trên bát cơm trông như những viên ngọc lấp lánh không? Uni là kho báu mùa hè (tháng 5 - tháng 8), còn mùa xuân (tháng 3 - tháng 4) và mùa thu (tháng 9 - tháng 10) thì có nhiều đặc sản tương ứng với vụ mùa khi đó.

 

Iso Ramen. (Nguồn ảnh: 岩手県観光協会)

 

Nếu không thích ăn đồ sống, hoặc muốn ăn các món chín hơn, hãy thử Iso Ramen (磯 ラ ー メ ン), một loại mì đặc sản vùng được chế biến chủ yếu với nước dùng từ konbu hoặc cá ngừ khô bào mỏng, phủ trên một lớp hải sản sang chảnh. Tên của nó có nghĩa là "ramen bờ biển", và mặc dù sự kết hợp nguyên liệu cụ thể của mỗi cửa hàng khác nhau, nhưng về cơ bản thì lớp hải sản phủ bên trên có mực, tôm và sò điệp, trong khi các loại cao cấp hơn có thể bao gồm cua và uni ... ngon tuyệt cú mèo!

 

Hoya Ramen. (Nguồn ảnh: 東北観光推進機構)

 

Một loại ramen khác, hơi lạ một chút, chỉ có ở Sanriku chính là Hoya Ramen (ホヤ ラーメン). Hoya (ほや hải tiêu) là một loại dứa biển thường được làm thành sashimi, nhắm cùng đồ uống. Tuy nhiên, ở món này, bạn có thể thử hoya nấu chín, với nước dùng mặn giúp tăng hương vị tự nhiên của hoya.

 

Kết hợp vị biển từ lượng wakame (ワカメ rong biển) dồi dào và vị ngọt thịt từ hoya, món ramen này nhằm mang phước lành của biển (海の恵み Umi-no-megumi) đến cho thực khách. Hoya Ramen là một món ăn xuất xứ từ Taneichi (種市) ở phía bắc bờ biển Sanriku. 

 

Hải sản tươi sống ở chợ cá Sanriku

Mẻ hải sản tươi mới đánh bắt tại Chợ Cá Miyako. (Nguồn ảnh:  宮古観光文化交流協会)

 

Thèm cá tươi? Hãy đến bất kỳ chợ hải sản nào của Sanriku để mua những mẻ cá tươi rói đánh bắt trong ngày. Vì đánh bắt cá là ngành công nghiệp chính ở vùng Sanriku, bạn có thể thấy các chợ cá tươi ở hầu khắp mọi nơi. Các cảng và chợ cá thường rất gần nhau, vì vậy chắc chắn rằng các món bạn thấy đều rất tươi ngon.

Một trong những chợ lớn nhất và quan trọng nhất của khu vực này là Chợ Cá Miyako (宮古市魚菜市場 Miyako-shi Gyosai Ichiba), cách ga Miyako chỉ 10 phút đi bộ. Chợ Cá Miyako đôi khi được gọi là “Nhà Bếp của Miyako” để nhấn mạnh tầm quan trọng của nó đối với cộng đồng địa phương. Chợ không chỉ bán cá mà còn bán trái cây và rau quả trồng tại địa phương. Uni, cá hồi và ikura là những sản phẩm hàng đầu ở chợ này, và cũng là nơi bạn có thể tìm thấy uni tươi bán trong chai thủy tinh, cũng như thử món bindon.

 

Chợ Cá Miyako (宮古市魚菜市場)
Địa chỉ: 1-1 Satsuki-cho, Miyako-shi, Iwate 027-1522
Cách đi: 10 phút đi bộ từ ga Miyako (宮古駅)
Giờ mở cửa: 06:30 – 17:30 (Đóng cửa vào các ngày thứ 4, và các ngày lễ trong năm)

 

Sunfish Kamaishi. (Nguồn ảnh: 東北観光推進機構)

 

Một chợ cá nổi tiếng khác là chợ cá Sunfish Kamaishi (Sunfish Kamaishi  サン・フィッシュ釜石) - một tòa nhà hai tầng cách ga Kamaishi chỉ 1 phút đi bộ. Sau khi mua cá tươi từ chợ tầng 1, bạn có thể đến một trong nhiều nhà hàng và thuê một bộ dụng cụ nướng để tự chế biến món cá cho mình! Chỉ với 500 yên (khoảng 105.000 vnđ), bạn có thể thuê một bộ dụng cụ nướng bao gồm vỉ, kẹp gắp, găng tay, đĩa giấy, đũa dùng một lần và nước tương.

    

Sunfish Kamaishi (サンフィッシュ釜石)
Địa chỉ: 2-1 Suzukocho, Kamaishi, Iwate 026-0031
Cách đi: 1 phút đi bộ từ ga Kamaishi (釜 石 駅)
Giờ mở cửa: 07:00 – 16:00 (Đóng cửa vào thứ 4, và các dịp không thường xuyên)

 

Tàu Tham Quan

Dọc đường bờ biển Sanriku, bạn có thể chuyển sang đi thử ba chuyến tàu JR East Joyful Train khác nhau — đây là các chuyến tàu tham quan giúp chuyến đi trở nên thú vị hơn. Cả ba chuyến tàu này được mở nhằm mục đích tăng cường du lịch đến các khu vực chúng chạy qua - những nơi chịu ảnh hưởng nặng nề bởi trận động đất và sóng thần năm 2011.

 

Tàu POKÉMON with YOU Train. (Nguồn ảnh: JR East / Carissa Loh)

 

Tàu POKÉMON with YOU Train chạy giữa Ichinoseki và Kesennuma, được khai trương năm 2012 để mang lại nụ cười cho trẻ em vùng Tohoku - nơi chịu ảnh hưởng của trận động đất và sóng thần năm 2011. Tại Kesennuma, tuyến JR Ofunato nối với hai tuyến BRT. Bạn có thể xem bài viết trước của mình về trải nghiệp đi trên chuyến tàu này tại đây.

 

Tàu TOHOKU EMOTION. (Nguồn ảnh: JR East / Carissa Loh)

 

Chạy giữa Hachinohe và Kuji, TOHOKU EMOTION (東北エモーション Tōhoku Emōshon) là một chuyến tàu kiêm nhà hàng cao cấp được mở năm 2013 để quảng bá du lịch đến khu vực Sanriku và cho du khách trải nghiệm cảnh quan tuyệt đẹp từ cửa sổ tàu. Tại Kuji, tuyến JR Hachinohe kết nối với tuyến Đường sắt Sanriku Rias Line. Bạn có thể xem bài viết trước của mình về trải nghiệm đi trên chuyến tàu này tại đây.

 

Tàu SL Ginga. (Nguồn ảnh: JR East / Carissa Loh)

 

 Được khôi phục từ đầu máy hơi nước C58 239, SL Ginga, chạy giữa Hanamaki và Kamaishi, được khai trương năm 2014 nhằm phục hồi khu vực chịu ảnh hưởng bởi thảm họa năm 2011. Tại Kamaishi, tuyến JR Kamaishi nối với tuyến Đường sắt Sanriku Rias Line. Bạn có thể xem bài viết trước của mình về trải nghiệm đi trên chuyến tàu này tại đây.

 

Bên trong một số chuyến tàu tham quan theo mùa của Đường sắt Sanriku. (Nguồn ảnh: 岩手県観光協会)

 

Khác với hệ thống tàu Joyful Train của JR East, Đường sắt Sanriku cũng có các chuyến tàu tham quan theo mùa của riêng mình dọc tuyến Rias, chẳng hạn như tàu Kotatsu (こたつ列車  Kotatsu Ressha) có kotatsu (こたつ chăn sưởi) vào mùa đông (tháng 12 đến tháng 2) hoặc tàu Sanchoku (産直列車 Sanchoku Ressha) - nơi các mặt hàng sản xuất tại địa phương được bày bán trực tiếp trên tàu, biến đoàn tàu thành một khu chợ di động.

 

Ngoại thất tàu 36-Z series. (Nguồn ảnh: Đường sắt Sanriku)

 

Fun Fact: Số hiệu các tàu thuộc hệ thống Đường sắt Sanriku bắt đầu với số “36” - phát âm của từ này cũng là “Sanriku” - một phép chơi chữ! Hiện tại, các số hiệu tàu hoạt động thường xuyên là hệ thống các tàu 36-100, 36-200 và mới nhất là các tàu 36-700. Ngoài ra còn có một toa đặc biệt, mang số hiệu 36-Z, với ghế ngồi bệt kiểu Nhật (座敷席 zashikiseki), được sử dụng vào các sự kiện đặc biệt như làm tuyến thăm quan Kotatsu. Cả các tàu dòng 36-700 và dòng 36-Z đều được sản xuất để hỗ trợ phục hồi du lịch sau trận đại động đất và sóng thần miền Đông Nhật Bản, với viện trợ từ Kuwait.

 

Dịch vụ BRT

BRT chạy dọc bờ biển Sanriku giữa Sakari và Maeyachi. (Nguồn ảnh: JR East)

 

Tuyến Đường sắt Sanriku Rias Line kết thúc tại ga Sakari, nhưng tại đây nó nối với hệ thống BRT (xe buýt nhanh) của JR East. BRT là xe buýt sử dụng một phần các đường ray cũ không được xây dựng lại sau thảm họa. Chuyển sang hệ thống xe buýt cho phép có nhiều chuyến hơn, phục vụ cho cộng đồng địa phương tốt hơn.

 BRT được chia thành hai khu vực hoạt động, nối với nhau tại ga Kesennuma, nơi bạn có thể chuyển sang các tuyến tàu của JR East:

  • Tuyến BRT Ofunato: Sakari (盛) đến Kesennuma (気 仙 沼) (85 phút, 43,7km)
  • Tuyến BRT Kesennuma: Kesennuma (気 仙 沼) đến Maeyachi (前 谷地) (140 phút, 72,8km)

 

Hãy đón chờ phần 2 của loạt bài viết này, chúng mình sẽ khám phá tuyến đường mòn ven biển Michinoku, cũng như Rikuzentakata (陸前高田) — một trong những nơi BRT đi qua và cũng là một trong những thành phố chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi trận sóng thần năm 2011.

 

Cách đi 

Ga Kuji (ga phía bắc tuyến Đường sắt Sanriku Rias Line)

  • Từ Tokyo, đi tàu Tohoku Shinkansen đến ga Hachinohe (八戸駅) (2 giờ 45 phút), sau đó chuyển sang tuyến JR Hachinohe đến ga Kuji (久慈駅) (1 giờ 40 phút).

Ga Sakari (ga phía nam Tuyến Đường sắt Sanriku Rias Line)

  • Từ Tokyo, đi tàu Tohoku Shinkansen đến ga Ichinoseki (一ノ関駅) (2 giờ), chuyển sang tuyến JR Ofunato đến ga Kesennuma (気仙沼駅) (85 phút), sau đó sang tuyến BRT Ofunato đến ga Sakari (盛駅) (85 phút).

 

Vé JR EAST PASS (Khu vực Tohoku)

 Vé JR EAST PASS (khu vực Tohoku) mới và khu vực sử dụng. (Nguồn ảnh: JR East)

 

Nếu bạn đến thăm khu vực Tohoku để khám phá vùng bờ biển Sanriku, hãy tham khảo vé JR EAST PASS (khu vực Tohoku), một loại vé có giá phải chăng, cho phép đi tàu không giới hạn trên các tuyến JR East (bao gồm cả tàu cao tốc và BRT) thuộc khu vực áp dụng, trong 5 ngày liên tiếp. Giá chỉ 20.000 yên (4.238.000 vnđ), rẻ hơn vé khứ hồi giữa Tokyo và Kuji (~ khoảng 34.000 yên - 7.113.000 vnđ), hoặc vé khứ hồi giữa Tokyo và Sakari (~ khoảng 30.000 yên – 6.276.000 vnđ). Bạn cũng có thể đặt chỗ tàu cao tốc, một số tàu tốc hành đặc biệt và các tàu thuộc hệ thống Joyful Train trực tuyến miễn phí, trước tối đa 1 tháng, tại đây. Vé JR EAST PASS (khu vực Tohoku) có thể được sử dụng tại các cửa soát vé tự động và những người có hộ chiếu nước ngoài sống ở Nhật Bản cũng đủ điều kiện để sử dụng loại vé này.

 

LƯU Ý: Từ ngày 1 tháng 4 năm 2021, đã có một số thay đổi về hiệu lực và giá vé JR EAST PASS (khu vực Tohoku). Để biết thêm thông tin, vui lòng kiểm tra tại đây.

 

Mặc dù không áp dụng được vé JR EAST PASS (khu vực Tohoku) cho tuyến Đường sắt Sanriku Rias Line được, nhưng Đường sắt Sanriku có nhiều loại vé trọn gói 1 ngày và 2 ngày để sử dụng vào dịp cuối tuần và ngày lễ, bạn có thể tham khảo tại đây.

 

Nguồn ảnh tiêu đề: 東北観光推進機構

 

Bài viết liên quan

Share this article:
TSC-Banner
Kanagawa-Right-Banner